Phân cấp hành chính Việt Nam là sự phân chia các đơn vị hành chính của Việt Nam thành từng tầng, cấp theo chiều dọc. Theo đó cấp hành chính ở trên (cấp trên) sẽ có quyền quyết định cao hơn, bắt buộc đối với cấp hành chính ở dưới (hay cấp dưới).

Phân cấp hành chính Việt Nam hiện nay theo Điều 110 Hiến pháp 2013 và Điều 2 Luật Tổ chức chính quyền địa phương 2015 gồm 3 cấp hành chính là:
- Cấp tỉnh: Tỉnh/ Thành phố trực thuộc trung ương
Sau nhiều lần chia tách và nhập lại, tính đến nay, Việt Nam có 63 đơn vị hành chính cấp Tỉnh, bao gồm 5 thành phố trực thuộc trung ương và 58 tỉnh (tương ứng với chữ số được đánh dấu trên “bản đồ Hành chính Việt Nam”).
- 5 thành phố trực thuộc Trung ương:
| 1. Hà Nội (thủ đô) | 2. Thành phố Hồ Chí Minh | 3. Hải Phòng | 4. Đà Nẵng | 5. Cần Thơ |
- 58 tỉnh:
| 6. Lai Châu 7. Điện Biên 8. Lào Cai 9. Hà Giang 10. Cao Bằng 11. Lạng Sơn 12. Yên Bái 13. Tuyên Quang 14. Bắc Kạn 15. Thái Nguyên | 16. Sơn La 17. Phú Thọ 18. Vĩnh Phúc 19. Bắc Ninh 20. Bắc Giang 21. Quảng Ninh 22. Hòa Bình 23. Hưng Yên 24. Hải Dương 25. Thái Bình | 26. Hà Nam 27. Nam Định 28. Ninh Bình 29. Thanh Hóa 30. Nghệ An 31. Hà Tĩnh 32. Quảng Bình 33. Quảng Trị 34. Thừa Thiên Huế 35. Quảng Nam | 36. Quảng Ngãi 37. Kon Tum 38. Gia Lai 39. Bình Định 40. Phú Yên 41. Đắk Lắk 42. Đắk Nông 43. Khánh Hòa 44. Lâm Đồng 45. Ninh Thuận | 46. Bình Thuận 47. Bình Phước 48. Tây Ninh 49. Bình Dương 50. Đồng Nai 51. Bà Rịa – Vũng Tàu 52. Long An 53. Đồng Tháp 54. Tiền Giang 55. Bến Tre | 56. An Giang 57. Vĩnh Long 58. Kiên Giang 59. Hậu Giang 60. Trà Vinh 61. Sóc Trăng 62. Bạc Liêu 63. Cà Mau |
2. Cấp huyện: Quận/ Huyện/ Thị xã/ Thành phố thuộc tỉnh/ Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương
Đây là cấp hành chính cấp 2 của Việt Nam, thấp hơn (về thẩm quyền), và thông thường thì cấp này cũng có quy mô dân số, diện tích, kinh tế nhỏ hơn cấp tỉnh. Đây là cấp hành chính cao hơn cấp xã, phường, thị trấn. Cấp hành chính này có nhiều tên gọi khác nhau tùy theo cấp hành chính nó trực thuộc, gồm “Huyện“, “Thị xã“, “Quận“, “Thành phố thuộc tỉnh“, “Thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương“, gọi tuần tự theo mức đô thị hóa. Trong đó, quận và thành phố thuộc thành phố trực thuộc trung ương không có trong tỉnh, chỉ áp dụng cho các đơn vị nội thành của thành phố thuộc trung ương. Thành phố thuộc tỉnh không có trong thành phố trực thuộc trung ương.
3. Cấp xã: Đây là đơn vị hành chính cấp cơ sở, thấp hơn cấp Huyện. Gọi xã, phường, thị trấn là tùy theo mức đô thị hóa. Trong đó, phường không có trong huyện, xã không có trong quận, thị trấn chỉ có trong huyện.
Có 4 đơn vị hành chính cấp huyện không có đơn vị cấp xã (đều là các huyện đảo), bao gồm: Hoàng Sa, Lý Sơn, Côn Đảo, Cồn Cỏ.
Ngoài ra còn có đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt do Quốc hội thành lập.
Dưới xã có làng/thôn/bản/buôn/sóc/ấp…, dưới phường/thị trấn có khu dân cư/khu phố/khu vực/khóm/ấp. Khi lượng dân cư đông thì thôn làng dưới xã có thể chia ra các xóm, còn khu dân cư ở phường/thị trấn thì chia ra tổ dân phố, dưới tổ dân phố còn chia ra cụm dân cư. Đây là cấp cơ sở không pháp nhân, phục vụ cho quản lý dân cư nhưng không được xem là cấp hành chính, và những người tham gia quản lý hoạt động ở cấp này chỉ hưởng phụ cấp công tác mà không được coi là công chức.
